Bộ KH&CN
85

Tin ngành

Công nghiệp văn hóa cần những 'nhạc trưởng' am hiểu công nghệ

(giờ Việt Nam)

Tóm tắt AI

Để đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường hiệu quả, đội ngũ quản trị cần kết hợp tư duy kinh doanh với khả năng ứng dụng AI và công nghệ số vào chuỗi giá trị.

Bản dịch AI

Công nghiệp văn hóa cần “nhạc trưởng” am hiểu công nghệ

Công nghiệp văn hóa đang được xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới. Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên phong phú về lịch sử, di sản, nghệ thuật và văn hóa bản địa, nhưng để chuyển hóa những giá trị đó thành sản phẩm có khả năng tồn tại trên thị trường, cần một lực lượng đứng sau để tổ chức toàn bộ quy trình từ phát triển ý tưởng đến tiếp cận công chúng.

Khoảng trống hiện nay nằm ở đội ngũ quản trị. Thực tế đã từng có những chương trình nghệ thuật được đầu tư công phu, tạo hiệu ứng mạnh khi ra mắt nhưng lại khó duy trì thành sản phẩm biểu diễn định kỳ. Một sản phẩm có chất lượng nghệ thuật tốt vẫn cần được tính toán từ sớm về khách hàng, thị trường, kênh phân phối, phương thức vận hành và khả năng thu hồi vốn.

Trong bối cảnh số, yêu cầu này mở rộng sang năng lực khoa học và công nghệ. Người quản trị cần biết khai thác dữ liệu để nhận diện nhu cầu khán giả, sử dụng các nền tảng số để bán vé và phân phối nội dung, ứng dụng công cụ quản trị khách hàng, đo lường hiệu quả truyền thông và lựa chọn công nghệ phù hợp với từng loại sản phẩm.

Công nghiệp văn hóa cần “nhạc trưởng” am hiểu công nghệ- Ảnh 1.

Người trẻ phát triển sản phẩm sáng tạo từ chất liệu văn hóa, gắn với công nghệ và nhu cầu thị trường.

AI cũng đang làm thay đổi nhiều khâu của chuỗi giá trị. Công nghệ có thể hỗ trợ phân tích thị trường, xây dựng nội dung truyền thông, dịch thuật, cá nhân hóa trải nghiệm và tối ưu một số công đoạn sản xuất. Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), 3D hay các nền tảng tương tác lại mở thêm cách phát triển sản phẩm trong bảo tàng, di sản, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn.

Vì vậy, người quản trị văn hóa cần hiểu công nghệ ở mức đủ để đặt đúng bài toán, lựa chọn giải pháp và tổ chức triển khai. Họ không nhất thiết phải là kỹ sư hay lập trình viên, nhưng phải có khả năng làm việc với đội ngũ công nghệ, hiểu dữ liệu đầu vào, đánh giá hiệu quả ứng dụng và nhận diện những rủi ro liên quan đến bản quyền, quyền riêng tư và tài sản trí tuệ trên môi trường số.

Đây cũng là điểm khác biệt giữa quản trị một chương trình nghệ thuật đơn lẻ với quản trị một sản phẩm công nghiệp văn hóa. Người làm nghề phải nhìn được toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ nghiên cứu nhu cầu, thiết kế trải nghiệm, tổ chức sản xuất đến thương mại hóa, khai thác trên nền tảng số và mở rộng thị trường.

Nhu cầu này đang thúc đẩy các cơ sở đào tạo thay đổi chương trình. Năm 2026, Trường Đại học Ngoại thương lần đầu tuyển sinh chương trình Cử nhân Kinh doanh sáng tạo và Công nghiệp văn hóa. Sinh viên được trang bị kiến thức về văn hóa, kinh doanh, công nghệ số và đổi mới sáng tạo, đồng thời tiếp cận quá trình vận hành từ hình thành ý tưởng đến xây dựng mô hình kinh doanh, marketing và phân phối sản phẩm.

Tại Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên được đưa vào các dự án thực tế ngay trong quá trình học. Với những chương trình như “Xẩm Đến Trường”, người học tham gia xây dựng kế hoạch, phối hợp với nghệ sĩ, tổ chức sự kiện và truyền thông tới công chúng trẻ. Quá trình đào tạo vì thế gắn trực tiếp với cách một dự án văn hóa được hình thành và vận hành trong thực tế.

Công nghiệp văn hóa cần “nhạc trưởng” am hiểu công nghệ- Ảnh 2.

Sinh viên phát triển giải pháp truyền thông, đưa giá trị văn hóa tiếp cận thị trường bằng công nghệ.

Yêu cầu đặt ra với đào tạo nhân lực vì vậy không dừng ở việc bổ sung một số môn về công nghệ. Các chương trình cần hình thành năng lực liên ngành giữa văn hóa, quản trị, kinh doanh, dữ liệu và công nghệ, đồng thời tăng thời lượng thực hành trên các dự án thật.

Khi mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa ngày càng gắn với thị trường số và các công nghệ mới, đội ngũ quản trị chính là lực lượng kết nối nghệ sĩ, nhà sản xuất, kỹ sư công nghệ, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Năng lực sử dụng khoa học và công nghệ vì thế trở thành một phần của năng lực quản trị, giúp ý tưởng văn hóa được tổ chức thành sản phẩm, vận hành hiệu quả và tiếp cận thị trường rộng hơn.

Đây cũng là yêu cầu phù hợp với tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW: phát triển văn hóa gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo thêm giá trị kinh tế từ tài nguyên văn hóa Việt Nam.

Công nghiệp văn hóaChuyển đổi sốAIQuản trịCông nghệ
Đọc bài gốc

Bài viết được AI dịch và tổng hợp tự động từ Bộ KH&CN. Liên kết bài gốc ở phía trên. AIHOT.vn luôn dẫn nguồn đầy đủ — nếu bạn thấy điểm cần chỉnh sửa, hãy gửi ý kiến tại trang phản hồi.