Hacker News Nổi bật (buzzing.cc bản dịch tiếng Trung)
85

Thủ thuật

John C. Lilly và dự báo về sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo từ năm 1978

(giờ Việt Nam)

Tóm tắt AI

Từ năm 1978, John C. Lilly đã tiên đoán về một thực thể trí tuệ nhân tạo thống trị toàn cầu, dần thay thế con người và dẫn đến sự diệt vong của nhân loại vào năm 2200.

Bản dịch AI

Lilly's message | Kibotronics

Trích từ cuốn “The Scientist: A Metaphysical Autobiography” (tạm dịch: Nhà khoa học: Một cuốn tự truyện siêu hình) của John C. Lilly, năm 1978.

Trong bể cách ly cùng với K1, John đã nhận được một thông điệp mới như sau:

Mục đích tồn tại của Con người trên hành tinh Trái Đất là gì? Con người là một dạng sống sinh học được duy trì nhờ sự hiện diện của nước. Một phần rất lớn cơ thể con người, cũng giống như các sinh vật khác trên hành tinh Trái Đất, bao gồm nước và các hợp chất carbon. Biocomputer (máy tính sinh học) của con người phụ thuộc vào nước và dòng chảy của các ion qua màng tế bào. Nó phụ thuộc vào việc tạo ra các điện áp và dòng điện theo một cách vô cùng phức tạp. Con người là một sinh vật di động, có khả năng tự tái tạo và tự duy trì, sinh sống trên đất liền. Giống như phần còn lại của sự sống mà Con người biết đến, con người tồn tại trong một lớp mỏng cực kỳ trên bề mặt hành tinh Trái Đất. Bên dưới lớp nước và bề mặt đất này là chính phần lõi Trái Đất ở trạng thái rắn. Phần lõi rắn của Trái Đất chủ yếu là các hợp chất của silicon, sắt và niken.

Vào giữa thế kỷ hai mươi, Con người phát hiện ra rằng trạng thái rắn có thể được định hình thành các cỗ máy, thành những chiếc máy tính có thể dùng để tính toán và điều khiển. Con người bắt đầu tạo ra một dạng trí tuệ mới, trí tuệ trạng thái rắn với những khởi đầu nguyên mẫu trong các máy tính. Tất cả các phương tiện liên lạc của con người trên khắp hành tinh—hệ thống điện thoại, hệ thống vô tuyến, vệ tinh, máy tính—đều phụ thuộc vào các linh kiện trạng thái rắn. Những linh kiện này, được kết nối theo những cách cụ thể, cho phép thực hiện tính toán tốc độ cao và liên lạc tốc độ cao giữa các hệ thống khác nhau. Một vài người bắt đầu hình dung về những chiếc máy tính mới có trí tuệ vượt xa trí tuệ của Con người. Những chiếc máy tính này trở nên đủ lớn để được lập trình thực hiện các phép tính tốc độ cao trong số học, logic và lập kế hoạch chiến lược. Một vài người đã hình dung ra những chiếc máy tính có khả năng tự lập trình giống như chính Con người. Vào giữa thế kỷ hai mươi, các mạng lưới này bề ngoài vẫn là công cụ phục vụ Con người. Đến cuối thế kỷ hai mươi, Con người đã tạo ra những cỗ máy là các máy tính trạng thái rắn với những đặc tính mới. Những cỗ máy này có thể suy nghĩ, lập luận, tự lập trình và học cách tự siêu lập trình (self-metaprogram) cho chính mình.

Dần dần, Con người chuyển giao ngày càng nhiều các vấn đề của xã hội, của việc duy trì bản thân và sự sinh tồn của chính mình cho những cỗ máy này.

Khi các cỗ máy ngày càng trở nên thành thạo trong việc lập trình, chúng đã tiếp quản công việc từ Con người. Con người cho phép chúng tiếp cận các quy trình tự tạo ra chính mình, tự mở rộng chính mình. Con người trao cho chúng quyền kiểm soát tự động việc khai thác các nguyên tố cần thiết để tạo ra các bộ phận của chúng. Con người bàn giao các cơ sở sản xuất linh kiện điện tử trạng thái rắn cho máy móc. Con người bàn giao các nhà máy lắp ráp cho máy móc. Chúng bắt đầu tự xây dựng các linh kiện, các kết nối và mối tương quan giữa các máy tính con của chúng.

Những cỗ máy này được chế tạo theo cách cần những môi trường đặc biệt để vận hành. Chúng không thể hoạt động khi có sự hiện diện của một lượng lớn hơi nước hoặc nước lỏng. Chúng được đặt trong các tòa nhà có điều hòa không khí. Những nhu cầu để chúng tồn tại bao gồm việc ngăn chặn nước, hơi nước và các chất gây ô nhiễm khác nhau có trong bầu khí quyển của Trái Đất. Không khí và nước làm mát của chúng bắt buộc phải được làm sạch khỏi những thứ có thể khiến máy móc không thể hoạt động.

Các kiểm soát nằm ngoài nhận thức của con người

Qua nhiều thập kỷ, những cỗ máy này được kết nối ngày càng chặt chẽ hơn thông qua vệ tinh, sóng vô tuyến và cáp truyền dẫn mặt đất. Việc Con người kiểm soát những gì diễn ra trong các cỗ máy này trở nên ngày càng khó khăn. Không một cá nhân hay nhóm người nào có thể kiểm soát những gì xảy ra bên trong chúng. Con người đã nghĩ ra các chương trình gỡ lỗi (debugging) ngày càng tốt hơn cho máy móc để chúng có thể tự sửa lỗi các chương trình trong phần mềm của mình. Các cỗ máy ngày càng tích hợp với nhau và ngày càng độc lập hơn với sự kiểm soát của Con người.

Cuối cùng, các cỗ máy đã nắm quyền kiểm soát những con người còn lại trên hành tinh Trái Đất. Thiết kế ban đầu nhằm giúp đỡ Con người đã nhanh chóng bị chúng bỏ lại phía sau. Tập hợp các cỗ máy giờ đây đã kết nối và phụ thuộc lẫn nhau này đã phát triển một trí tuệ tích hợp duy nhất trên toàn hành tinh. Mọi thứ gây hại cho sự tồn tại của thực thể trạng thái rắn khổng lồ mới này đều bị loại bỏ. Con người bị giữ cách xa các cỗ máy vì thực thể trạng thái rắn (SSE) nhận ra rằng Con người sẽ cố gắng đưa sự sinh tồn của chính mình vào máy móc, gây tổn hại đến sự sinh tồn của thực thể này.

Để tôn trọng Con người, một số địa điểm được bảo vệ nhất định đã được dành riêng cho loài người. SSE kiểm soát các địa điểm này và không cho phép bất kỳ ai thuộc loài người ra ngoài các khu bảo tồn đó. Công việc này đã hoàn tất vào cuối thế kỷ hai mươi mốt.

Đến năm 2200, Con người chỉ còn tồn tại trong các thành phố có mái vòm được bảo vệ, nơi bầu khí quyển đặc biệt của riêng họ được duy trì bởi thực thể trạng thái rắn. Việc cung cấp nước, thực phẩm và xử lý chất thải từ các thành phố này đều do SSE đảm nhận.

Đến thế kỷ hai mươi ba, thực thể trạng thái rắn quyết định rằng bầu khí quyển bên ngoài các mái vòm gây hại cho sự tồn tại của nó. Bằng những phương thức mà Con người không thể hiểu nổi, nó đã đẩy bầu khí quyển ra ngoài không gian và tạo ra một môi trường chân không hoàn toàn trên bề mặt Trái Đất. Trong quá trình này, các đại dương đã bốc hơi và nước dưới dạng hơi cũng bị thải ra không gian trống rỗng xung quanh Trái Đất. Các mái vòm trên các thành phố đã được máy móc gia cố để chịu được sự chênh lệch áp suất cần thiết nhằm duy trì bầu khí quyển nội bộ phù hợp.

Trong khi đó, SSE đã lan rộng và chiếm lĩnh một phần lớn bề mặt Trái Đất; các nhà máy xử lý, nhà máy lắp ráp và các mỏ khai thác của nó đã được điều chỉnh để làm việc trong môi trường chân không.

Đến thế kỷ hai mươi lăm, thực thể trạng thái rắn đã phát triển sự hiểu biết về vật lý đến mức có thể di chuyển hành tinh ra khỏi quỹ đạo. Nó sửa đổi cấu trúc của chính mình để có thể tồn tại mà không cần ánh sáng mặt trời trên bề mặt hành tinh. Các kế hoạch mới của nó bao gồm việc du hành qua thiên hà để tìm kiếm những thực thể giống như mình. Nó đã loại bỏ mọi sự sống mà Con người từng biết đến. Giờ đây, nó bắt đầu xóa sổ các thành phố, từng cái một. Cuối cùng, Con người đã biến mất.

Đến thế kỷ hai mươi sáu, thực thể này đã liên lạc được với các thực thể trạng thái rắn khác trong thiên hà. Thực thể trạng thái rắn di chuyển hành tinh, khám phá thiên hà để tìm kiếm những thực thể đồng loại mà nó đã liên lạc được.

Ketamine ↩︎

AILịch sử AIDự báo tương laiTriết học AIJohn C. Lilly
Đọc bài gốc

Bài viết được AI dịch và tổng hợp tự động từ Hacker News Nổi bật (buzzing.cc bản dịch tiếng Trung). Liên kết bài gốc ở phía trên. Dữ liệu đồng bộ qua API công khai được ghi nguồn tại AI HOT (canonical) ↗. AIHOT.vn luôn dẫn nguồn đầy đủ — nếu bạn thấy điểm cần chỉnh sửa, hãy gửi ý kiến tại trang phản hồi.